• Full Screen
  • Wide Screen
  • Narrow Screen
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
  • modules/mod_lv_enhanced_image_slider/images/H1/1.jpg
  • modules/mod_lv_enhanced_image_slider/images/H1/HNV.jpg
  • modules/mod_lv_enhanced_image_slider/images/H1/dhdk.jpg
  • modules/mod_lv_enhanced_image_slider/images/H1/hdnn.jpg

Tương Tiến Tửu: Say Trong Đường Thi

Email In PDF.

tuu1 

Bàn về rượu và thơ, thi sĩ Tản Đà đã có bốn câu:
Trời đất sinh ra rượu với thơ 
Không thơ không rượu sống như thừa 
Công danh hai chữ mùi men nhạt 
Sự nghiệp trăm năm nét mực mờ

Tản đà (Ngày Xuân Thơ Rượu)

Ở Trung Quốc đời xưa có Lưu Linh là một "ẩm giả" danh trấn giang hồ, uống rượu như hủ chìm. Ông tự Bá Luân, đời Tấn, chỉ thích uống rượu không quan tâm gì đến việc đời, thế sự bỏ ngoài tai . Ông là một trong 7 người hiền của Trúc Lâm, bạn chí thân của Trương Tịch. Tương truyền ông Trương Tịch uống rượu có khi say liền sáu mươi ngày. Ông cho cuộc đời là đáng chán, công danh sự nghiệp là phù vân. Có những đêm trường quạnh quẽ với bình rượu bên người, thao thức năm canh không ngủ, ông đã tự hỏi: "bồi hồi hà sở kiến, ưu tư độc thương tâm" (bồi hồi thấy gì đây, lo lắng thêm đau lòng) . Có khi ông đánh xe đi chơi cùng trời cuối đất, rồi trở về, khóc lóc thảm thiết. Ông thường ước mơ một xã hội không kẻ thống trị, không có người giàu, người nghèo và mọi người được tự do, không bị trói buộc. Nguyễn Tịch có đôi mắt huyền bí lạ lùng; khi ông tiếp khách người quân tử hay người ông yêu thích thì mắt ông xanh đen; khi có khách người tầm thường hay ông không ưa thì mắt ông toàn lòng trắng. 
Lưu Linh cũng như Trương Tịch đều có nhiều tài năng thơ, đàn, hát đều giỏi. Lưu Linh có làm bài thơ: Tửu Đức Tụng, với những lời thơ rất hào phóng, ngông cuồng để ca tụng cái "tửu tính" của Ông: "Có một đại nhân lấy trời đất làm một buổi, lấy muôn năm làm một chốc, lấy mặt trời, mặt trăng làm cửa, làm ngõ; lấy thiên hạ làm sân, làm đường. Đi không thấy vết xe, ở không có nhà cửa. Trời là màn, đất là chiếu, ý muốn thế nào thì thế. Ở thì nâng chén cầm bầu. Đi thì vác chai, xách nậm. Lúc nào cũng chỉ có việc rượu chè, không còn biết đến việc gì nữa..." . Lưu Linh đã thường nói "tử tiện mai" (chết đâu chôn đó). Trong tập thơ chữ Hán "Bắc Hành Tạp Lục" của Nguyễn Du có bài thơ "Lưu Linh Mộ" nói về vị ẩm giả lừng danh này:

Cái gã Lưu Linh chẳng có gì
Bảo người vác cuốc "chết chôn đi"
Khi say vạn vật đều như thế
Lúc chết hình hài tiếc cái chi
Gai phủ ngàn năm ngôi mộ cũ
Bụi bay muôn dặm phủ đường đi
Chi bằng tỉnh thức mà xem xét
Thế sự bèo trôi thảm cảnh ghi !

Lưu Linh Mộ - thơ Nguyễn Du (Hải Đà dịch)

Thời Đường có thi sĩ Lý Bạch, thường được gọi là "trích tiên", "tửu tiên". Đối với Lý Bạch, Thơ và Rượu đã đi đôi với nhau như hình với bóng. Chất men nồng của rượu thấm nhuần vào da thịt, theo dòng máu luân lưu đi vào trí não, đã động sinh ra luồng tư tưởng, quyện vào hồn chữ ý thơ, tạo ra những dòng thơ hào phóng, bay nhảy trong không gian bát ngát vô tận : "Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch, Duy hữu ấm giả lưu kỳ danh" (Thánh hiền bặt tiếng xưa nay, Chỉ dân uống rượu mới hoài lưu danh ) . Thơ của ông có chất men ngấm ngầm tạo ra những dòng suối tuôn trào triền miên vô tận . Nổi tiếng phải nói là bài Tương Tiến Tửu (Mời Uống Rượu) của ông. Dòng sông Hoàng Hà vần vũ từ trời cao rơi xuống, trăng từ ngàn xưa vần mãi lung linh chiếu sáng trên dòng sông bát ngát, giừa không gian vô tận. Trong tim óc của Lý Bạch lúc nào cũng ngân vang nhừng khúc tửu ca, tràn đầy sinh khí và sự sống "Đời đắc ý cho niềm vui tận hưởng, Chén vàng kia đừng cạn dưới trăng ngàn", tất cả đều vô nghĩa nếu con người không biết uống rượu ….Hãy nâng chén, uống đi để những dòng thơ ngạo nghề, đầy khí phách tuôn trào :

Mời Uống Rượu

Bạn chẳng thấy:
Nước sông Hoàng từ trời cao đổ xuống
Chảy ra khơi cuồn cuộn chẳng quay về
Gương lầu cao sáng soi sầu bạc tóc
Sớm tơ xanh chiều tuyết trắng lê thê

Đời đắc ý cho niềm vui tận hưởng
Chén vàng kia đừng cạn dưới trăng ngàn
Trời sinh ta tất có nơi hữu dụng
Tiêu hết đi rồi lại có nghìn vàngGiết bò dê để tìm vui lạc thú
Uống một lần ba trăm chén như không
Bác Sầm, Đan! đừng bao giờ ngưng lại
Rượu dâng lên hãy hát khúc nghe cùng"

Chuông trống giữa tiệc ngon chẳng quý
Tỉnh làm chi, thích chí say dài
Thánh hiền bặt tiếng xưa nay
Chỉ dân uống rượu mới hoài lưu danh ! 

Bình Lạc có Trần vương yến tiệc
Rượu vạn đồng, mặc sức vui cười
Chủ sao bảo thiếu tiền chơi
Mau mua rượu cùng bạn đời nâng ly ! 

Ngựa năm sắc, áo cừu bông ấm
Hãy đem đi đổi lắm rượu ngon
Rượu ngon cạn chén vui chung
Mối sầu muôn thuở ta cùng phá tan"

Tương Tiến Tửu- Lý Bạch (Hải Đà dịch)

Lý Bạch đã sáng tác bài thơ Tương Tiến Tửu, nhân lúc cao hứng trong một bửa tiệc rượu với hai người bạn là Sầm Quyên và Nguyên Ðan Khâu ở Tung Sơn, lúc đó Lý Bạch mang tâm trạng của một người xa nhà, chán nản, thất chí, bất bình . Bài thơ với những lời lẽ phóng khoáng, cao ngạo, khảng khái xem thường thế tục, và cũng mang một triết lý vô thường xem cuộc đời là ngắn ngủi, phù du, hữu hạn, thời gian qua mau như bóng câu bên cửa sổ : "Gương lầu cao sáng soi sầu bạc tóc, Sớm tơ xanh chiều tuyết trắng lê thê" thì tiếc chi mà không thụ hưởng thích thú, thỏa chí bình sinh : "Đời đắc ý cho niềm vui tận hưởng, Chén vàng kia đừng cạn dưới trăng ngàn" .. Nhà thơ đã phô bày ra một cảnh tượng uy nghi hùng tráng :
"Nước sông Hoàng từ trời cao đổ xuống. Chảy ra khơi cuồn cuộn chẳng quay về" , cảnh tượng hùng vĩ bao la đó đã đưa nhừng dòng thơ hào sảng của ông thấm nhuần hơi rượu chất ngất tận trời xanh, cuồn cuộn theo sông lớn chảy ra biển rộng bát ngát nghìn trùng . Hình ảnh đó đã mang một hình tượng đặc trưng, có tính cách triết lý, trừu tượng và ẩn dụ, để dẫn dắt đến sự biện minh của người thơ trong việc tìm đến thú vui của rượu . Cái tửu lượng của nhà thơ "uống một lần ba trăm chén như không", mặc dầu đây cũng chỉ là lời nói phô trương, nhưng cũng chỉ biểu lộ nỗi chán chường thế thái nhân tình, bi phẩn trước cảnh đời ngang trái, oan nghiệt, và đó chính là "mối sầu muôn thuở" mà nhà thơ muốn phá hủy tan tành cùng với những người bạn tâm đầu ý hiệp trong cuộc rượu – dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu !Trăng là bạn tâm đầu ý hợp, là người tình tha thiết của Lý Bạch. Vầng trăng lung linh sáng soi ở trời cao, ánh trăng vằng vặc rọi những tia sáng nhảy múa trong không gian vũ trụ muôn trùng, phản chiếu lồng lộng dưới đáy gương của dòng sông muôn thuở. Vẫn vầng trăng ấy, trăng của tiền kiếp xa xăm và trăng của hiện tại nhân sinh, người nay đâu thấy vầng trăng xưa, nhưng trăng thời nay vẫn sáng soi người xưa cũ, cái vầng trăng vĩnh cửu đó đã nối liền quá khứ với hiện tại, tương lai và dĩ vãng, không còn cảm thấy khoảng cách không gian và thời gian, để mà người xưa và người nay vẫn nâng chén rượu nồng ấm để thanh thản nhìn trăng và hỏi trăng. Lý Bạch ngắm trăng một cách thích thú, muợn trăng để gửi gắm tâm sự u uẫn của mình, trăng ở thật xa chót vót trên đỉnh ngọn trời cao, nhưng trăng cũng ở thật gần, thật tha thiết chân tình trong tâm hồn của người thơ . Thêm hơi rượu nồng chếnh choáng đã mang những ảo tượng chập chờn hư hư thật thật, đã tạo nên những vần thơ huyền hư, đặc trưng riêng biệt của trích tiên, thi tửu Lý Bạch :

Thỏ ngọc xuân thu thuốc giã mài
Hằng Nga đơn lẻ bạn cùng ai
Người nay đâu thấy vầng trăng cũ
Người cũ trăng soi vẫn sáng dài
Kẻ trước người nay như nước chảy
Trăng soi đêm sáng cứ trông hoài
Chỉ mong nâng chén cùng ca hát
Sóng sánh ly vàng trăng sáng soi 

Bả Tửu Vấn Nguyệt-Lý Bạch

tuu33

Đối với Lý Bạch độc ẩm dưới trăng là một sự thích thú vô tận, hơi rượu đã đem lại sự tưởng tượng vô cùng phong phú, đắc ý cho nhà thơ. Ông đã sáng tác một chùm thơ Nguyệt Hạ Độc Chước gồm 4 bài. Giữa bầu trời rộng rãi bao la, màn đêm vô tận được thắp sáng bởi những vì sao lấp lánh và vầng trăng lộng lẫy, chỉ một mình nhà thơ với bầu rượu , "hoa gian nhất hồ tửu, độc chước vô tương thân" người thơ phóng tầm mắt lên trời cao thăm thẳm. Trong trí tưởng tượng dạt dào vô biên của nhà thơ, ông cảm thấy vầng trăng kia, và chính cái bóng đen mờ ảo của người thơ đã biến hóa thành hai người, cộng thêm với nhà thơ thành ba người bạn tri âm, cùng nhau nâng chén say sưa . Nhà thơ đã không còn cảm thấy cảm giác cô đơn để độc ẩm một mình dưới trăng. Đôi cánh trí tưởng của ông đã bay vút cao vào vũ trụ nhẹ nhàng, yên tịnh, thanh thoát để cùng với chính bóng mình nhập hội với vầng trăng tha thướt nhảy múa, vui mừng, hội tụ để rồi ngậm ngùi chia ly giữa nhà thơ, bóng người, và vầng trăng, nhưng niềm hy vọng qua hơi men ngật ngầy vẫn hướng về một nơi chốn đoàn viên đó là chiếc cầu Ngân Hán vắt ngang cuối trời nối lại dây tơ lòng ngân vang trong lòng người thơ, và thơ và rượu đã đồng cảm quấn quít bên nhau như đôi uyên ương Ngưu Lang và Chức Nữ của muôn đời thủy chung "tình cho nhau mãi thiết tha, hẹn nhau gặp bến Ngân xa cuối trời " ….

Một bầu rượu giữa vườn hoa
Rượu đây không bạn cùng ta uống cùng
Nâng ly khẩn khoản mời trăng
Trăng, ta và bóng rõ ràng thành ba
Trăng không biết uống đâu mà
Còn đây chiếc bóng theo ta đêm dài
Cùng trăng với bóng miệt mài
Tuổi xuân mau hưởng thú vui trên đời
Ta ca trăng sáng tỏ ngời
Bóng theo ta múa chơi vơi nhịp nhàng
Hết say vui sướng rộn ràng
Tỉnh rồi mỗi kẻ một dàng chia xa
Tình cho nhau mãi thiết tha
Hẹn nhau gặp bến Ngân xa cuối trời

Nguyệt Hạ Độc Chươc kỳ nhất-Lý Bạch

Với hơi men nồng nàn chuếnh choáng, người thơ vốn bản tính cuồng ngông, giữa núi rừng lồng lộng, dưới trời cao thăm thẳm, có vầng trăng muôn thuở vẫn sáng soi, Lý Bạch đã chẳng bao giờ chuốc lấy nồi buồn lo quá đỗi, xem thường đời, bất chấp bọn quan lại quyền cao quí tộc, xem nhẹ công danh phú quí, mà ông chỉ muốn chắp đôi cánh đại bàng ngang tàng, thênh thang bay lên tận chín tầng mây để ngạo nghễ hỏi Trời Cao, rồi lại hạ cánh xuống đồng xanh bát ngát để chất vấn Ðất, và cũng xem thường các thánh hiền, thần tiên : "Thánh hiền cũng uống liên miên, Há chi phải khấn thần tiên làm gì ? ", một câu hỏi để ông tự trả lời và biện minh cho sự thích thú và đắc ý của ông :"Đất trời thích rượu miên man… Thì ta cũng thích chẳng màn thẹn ai"

Nếu Trời chẳng thích rượu sao
Hỏi xem rượu ở trời cao làm gì 
Nếu mà đất ghét rượu thì
Tại sao suối đất làm chi rượu tràn
Đất trời thích rượu miên man
Thì ta cũng thích chẳng màn thẹn ai
Nghe trong ví với thánh tài
Rằng đục thì cũng sánh vai bậc hiền
Thánh hiền cũng uống liên miên
Há chi phải khấn thần tiên làm gì 
Đạo thông chỉ uống ba ly
Uống xong một đấu cũng thì tự nhiên
Say sưa là thú cơ duyên
Chứ làm kẻ tỉnh danh truyền chẳng mong !

Nguyệt Hạ Độc Chươc kỳ nhị-Lý Bạch

Bốn mùa tuần tự trôi qua theo định luật biến thiên của tạo hóa và đôi chân Lý Bạch cũng phiêu bạt khắp đất trời thiên hạ, để một ngày đẹp trời tiết tháng ba đã lạc chân đến Hàm Dương, cảnh sắc xuân đẹp muôn màu, chim chóc ríu rít ca vang, mùa xuân xanh thắm tốt tươi, cây cối đâm chồi nẩy lộc, lá non xanh mởn trên cành, nhưng nhà thơ vẫn cảm thấy cô đơn buồn da diết vì xa nhà, xa bạn bè, biết cùng ai để nâng chén vui xuân, thôi đành "độc ẩm" dốc bầu say sưa để cho hồn thơ đắm đuối theo nguồn vui triền miên vô tận giữa hơi men chất ngất tận trời xanh, để quên đi tất cả "sống, còn một chén như không, Sự đời muôn việc khó hòng phân qua …

"Hàm Dương giữa tiết tháng ba
Đẹp như nhung gấm nghìn hoa phô màu
Nhìn xuân ai kẻ đơn sầu
Cảnh xanh tươi hãy dốc bầu say sưa
Cùng thông dài ngắn chuyện xưa
Bẩm sinh muôn vật cho vừa hóa công
Sống, còn một chén như không
Sự đời muôn việc khó hòng phân qua
Đất trời quên mất, say mà !
Đêm nằm gối chiếc sa đà mơ xa 
Đâu còn biết đến thân ta
Niềm vui ấy mới thật là vô biên !

Nguyệt Hạ Độc Chươc kỳ tam-Lý Bạch

Những lúc ngả lòng, chán đời là những lúc người thơ chỉ biết tìm đến rượu như một liều thuốc giải khuây, để phá tan những ưu uất trong lòng, những phiền muộn gian truân trên cõi đời ô trọc tục lụy : "Rượu mà không thích trên đời, Cái danh hư hão được thời đáng không ? " Dòng suối rượu đã đưa bước chân phiêu lãng của nhà thơ đến những nơi chốn tận cùng mênh mông bát ngát, văng vẳng đâu đây tiếng nhạc lòng thanh thản cứ mãi vun vút lan xa bốn phương trời thăm thẳm . Đối với Lý Bạch, Rượu và Thơ la đôi bạn tình lý tưởng, rượu đã khơi động nguồn thơ vô tận, và thơ đã đắm chìm trong men rượu , rượu thơ như những chất xúc tác hổ tương lẫn nhau :

Sầu đong nghìn mối đau lòng
Ba trăm chén rượu thơm nồng uống chơi
Sầu nhiều rượu ít than ơi
Rượu mà cạn chén sầu thời khuất xa
Cho nên thánh rượu biết là
Uống say lòng dạ mở ra chuyện thường
Thóc Chu bỏ, ở Thú Dương
Ðể cho bụng đói mà thương Nhan Hồi
Rượu mà không thích trên đời
Cái danh hư hão được thời đáng không
Cua tôm rượu quí chờ mong
Còn kia bã rượu: cõi Bồng non xanh
Hãy mau uống rượu ngon lành
Uống xong say khướt lên thành cỡi trăng

Nguyệt Hạ Độc Chươc kỳ tứ-Lý Bạch

Tình bạn đối với Lý Bạch là một cái gì trân quí vô cùng, ông đã cùng với những người bạn tri âm ngao du sơn thủy, khi thì ở tận chốn non cao, khi đong đưa trên nhừng chiếc thuyền câu, chén thù chén tạc, ngẫm nghĩ về cuộc đời phù du, như bóng câu qua song cửa như áng mây bay cuối trời . Cái qui luật vô thường "sinh lão bệnh tử" ai mà tránh khỏi được, và Lý Bạch càng thất thấm thía chua xót hơn, khi phải chia ly vĩnh viền người bạn thân quí của đời ông, lúc mà chén rượu cũng chẳng giải thoát được cơn sầu muộn của ông, để đến lúc người thơ chỉ muốn rút kiếm chém tan cái cuồng nộ, oan khiên của cuộc đời, chém vào hư không, chém vào dòng nước đang chảy xiết …"Rút đao chém nước chảy cuồng, Tiêu sầu cạn chén lại buồn thêm thôi" …

Sao người đã bỏ ta đi
Ngày qua tháng lại còn gì níu đâu
Lòng đau dạ rối tơ nhàu
Ngày thêm chất chứa mối sầu nặng mang
Én thu bay với gió ngàn
Lầu cao say khướt cảnh buồn mênh mang
Thơ Bồng cốt cách Kiến An
Thế gian Ông Tạ phong văn tuyệt vời
Ý hùng hứng khởi chơi vơi
Muốn bay bổng mãi lên trời bắt trăng
Rút đao chém nước chảy cuồng
Tiêu sầu cạn chén lại buồn thêm thôi
Trần gian chưa thỏa ý người
Sớm mai rũ tóc rong chơi với thuyền

Tuyên Châu Tạ Diễu lâu tiễn biệt Hiệu thư Thúc Vân -Lý Bạch

Cuộc đời phóng khoáng của Trích tiên Lý Bạch luôn gắn bó với thơ và rượu, ông đã để lại mấy nghìn bài thơ cho hậu thế, thơ của ông ngấm chất men của rượu, đượm thi vị thanh cao của trăng sao trong vũ trụ mênh mông bát ngát, như Trịnh Cốc đã khen tặng :

Sao Văn, sao Rượu lung linh
Tại sao Ông Lý một mình hưởng thay
Ba nghìn thi khúc ngâm say 
Vầng trăng sáng tỏ, cõi này lưu danh

Độc Lý Bạch Tập- Trịnh Cốc

Đỗ Phủ là bạn hiền của Lý Bạch … Lý Bạch, Đỗ Phủ là hai người bạn thơ thân thích, chí tình. Lý Bạch thương cho cuộc đời Đỗ Phủ long long lận đận trên đường công danh sự nghiệp, hai người thơ đều phục tài thơ của nhau, và thường đề tặng thơ cho nhau, cũng như cùng nhau thù tạc ngâm vịnh. Lý Bạch được mệnh danh là "thi tiên" thì Đỗ Phủ cũng được gọi là "thi thánh". Trong bài thơ "Túy Thì Ca" (bài hát khi say), Đỗ Phủ đã nói về Lý Bạch : "Tiên sinh hữu tài quá Khuất Tống, Đức tôn nhất đại thường khảm kha" (tài ông còn vượt cả Khuất Tống , đức độ một thời vẫn mãi lận đận), và chính vì thế mà Lý Bạch đã muốn say để tìm quên trong rượu và trăng. Đỗ Phủ là một nhà thơ về xã hội, nhưng ông ngưỡng mộ Lý Bạch như đã nói trong mấy vần thơ :

Thơ ai hơn Lý Bạch
Ý tứ hay xuất thần
Mát tươi như khai phủ
Tài cao tựa tham quân
Vị Bắc cây xuân ngát
Giang Đông mây chiều gần
Bao giờ chia chung rượu
Nâng chén luận thi văn

Xuân Nhật Ức Lý Bạch- Đỗ Phủ

Trong một bài ca về tám vị tiên (tám nhà thơ) trong giới uống rượu "Ẩm Trung Bát Tiên Ca", gồm có Hạ Tri Chương, Nhữ Dương, Lý Thích Chi, Tông Chi, Tô Phổ, Trương Húc, Tiêu Toại và Lý Bạch , “"thi thánh" Đỗ Phủ đã viết tặng bốn câu thơ về trích tiên Lý Bạch :

Lý Bạch đẩu tửu thi bách thiên
Trường An thị thượng tửu gia miên
Thiên tử hô lai bất thượng thuyền
Tự xưng thần thị tửu trung tiên

Lý Bạch trăm bài một chén thôi
Trường An say ngủ bất cần đời
Vua gọi thuyền bên chẳng trả lời
Tự xưng "rượu thánh với tiên trời"

(Lý Bạch chỉ cần một ly là hàng trăm bài thơ phun ra
Nơi quán rượu Trường An ngủ say khì
Vua gọi lên thuyền cũng chẳng thèm lên
Tự cho mình là tiên đang say trong rượu)

Bản thân Đỗ Phủ cũng thích rượu, nhưng Ông không đam mê rượu một cách say đắm như Lý Bạch, ông không như trích tiên Lý Bạch đi đâu uống say đó, uống quên cả trời đất, ngủ ở bất cứ nơi nào, quán chợ, đầu đình một khi đã say mèm. Thơ của ông man mác nỗi buồn nhân thế, tinh tế, nhuần nhuyền, giàu tính nghệ thuật, bộc lộ sự chân thật xuất phát tự đáy lòng, nhất là những khi "đầu sông say khướt, chiều tàn mới thôi" để cuối cùng "mềm môi cạn chén, xót thương nỗi lòng"…

Hoa tàn, xuân kém xanh tươi
Gió mênh mang thổi, lòng chơi vơi buồn
Nhìn hoa, ánh mắt sầu vương
Mềm môi cạn chén, xót thương nỗi lòng

Khúc Giang Nhị Thủ - Kỳ Nhất - Đỗ Phủ

Tan chầu, nao nức đón xuân
Đầu sông say khướt, chiều tàn mới thôi
Rượu nầy vay nợ đủ nơi
Bảy mươi sống thọ, mấy người gặp may
Đùa hoa, lũ bướm vờn bay
Chuồn chuồn chấm nước, cánh dài chao nghiêng
Cảnh trời thay đổi thường xuyên
Dại chi không hưởng mà quên muộn phiền

Khúc Giang Nhị Thủ - Kỳ Nhị-Đỗ Phủ

Nhà thơ Lý Hạ thường được gọi là Thi Quỉ , ông là một hiện tượng kỳ lạ của nền thi ca Trung Quốc. Lý hạ mới bảy tuổi đã biết làm thơ, và thơ ông đã gây kinh động cho một số nhà thơ lớn trên thi đàn Trung Quốc cùng thời, nhưng Lý Hạ là một kẻ tài hoa yểu mệnh, một thiên tài bị đời lãng quên. Lý Hạ chẳng bao giờ gặp may mắn trên đường công danh sự nghiệp , thất vọng, thất chí, đâm ra phẩn nộ cuộc đời. Thơ Lý Hạ bàng bạc sương khói hư huyền, liêu trai, ảo não đoạn trường, mang âm hưởng bi oán lạ lung, quái dị ma quái . Những ngôn từ của ông kỳ dị hoang đường, lời lẽ thống thiết khóc than cho hận lòng chẳng bao giờ được siêu thoát .Chẳng hạn trong bài thơ Tương Tiến Tửu của Lý Hạ, những mồi nhắm rượu của ông rất là khác lạ như thịt rồng, thịt phượng : "phanh long, bào phượng ngọc chi khấp" (Hãy xẻ thịt rồng, nướng thịt chim phụng cho mỡ trắng như ngọc trong nồi phải khóc than ), trong khi Lý Bạch trong cuộc rượu, còn có chút gì thực tế với đời sống người thường "Phanh dương tể ngưu thả vi lạc" (mổ dê, giết bò để tìm thú vui):

Hãy Mời Rượu (Lý Hạ)

Chén lưu ly đậm đà rượu phách
Rượu hồng ngon sóng sánh giọt châu
Thịt rồng, phượng nấu thơm lâu
Trong nồi mở ngọc âu sầu khóc than

Màn lụa vây gió xuân thơm ngát
Sáo rồng trống sấu hát vang ca
Hàm răng trắng muốt nõn nà
Eo thon nhảy múa thân ngà ngọc kia 

Giữa ngày xuân chiều buông tha thướt
Hoa đào bay lất phất mưa hồng
Xin người say khướt men nồng
Rượu đâu ghé đến mộ phần Lưu Linh

Tương Tiến Tửu - Lý Hạ 


tuu11


Rượu mà "độc ẩm" thì thì lại càng cảm thấy cô độc, đơn lẻ hơn. Rượu mà còn có bạn bè chung vui, nâng chén, thù tạc, chia sẻ thì mới lý thú hơn. Các người thơ "đa ẩm" đế chia sẻ với nhau cái mùi vị, cái hương thơm, cái ảo ảnh, và linh hồn của rượu (tri kỳ vị, tri kỳ hương, tri kỳ ảo, tri kỳ linh). Một số nhà thơ đã bộc lộ cảm xúc của mình, bày tỏ nỗi lòng một cách rất chân tình, tự nhiên và thành thật trong những bài thơ tâm tình, ca tụng tình bạn, tri âm tri kỷ. Họ mang chung một hoài bão, một quan niệm sống, một nhân sinh quan trong cuộc đời, và tìm đến với nhau như những tâm hồn đồng điệu, nhất là những khi gặp thất bại trên đường công danh sự nghiệp, hoặc chán nản ngao ngán trước cảnh thế thái nhân tình, hay bất mãn về những bất công áp bức trong xã hội, hoặc sự chèn ép mâu thuẫn của chế độ quan liêu phong kiến. Tình bạn thân thiết đồng cảm đã được các nhà thơ bày tỏ chân thành, trên những bước đường lãng du, cùng nhau uống rượu ngâm thơ, chén thù chén tạc để mà…"Say sưa nghĩ cũng hư đời, Hư thì hư vậy, say thì cứ say, Đất say đất cũng lăn quay, Trời say mặt cũng đỏ gay ai cười? " (Tản Đà, Lại Say);

Uống đi anh nhé, rượu mời anh
Tựa sóng lòng người biến đổi nhanh
Chống kiếm quen nhau đầu đã bạc
Diễu cười kẻ khốn lúc công thành
Mưa phùn cỏ ướt xanh màu thắm
Gió lạnh hoa xuân lay lắt cành
Thế sự mây trôi đừng hỏi đến
Lo chi ăn đủ với nằm kềnh 

Chước Tửu Dữ Bùi Địch -Vương Duy

Ghé qua quán rượu gặp bạn bè vui chơi, cùng nhau say bí tỉ, quên đời, hàn huyên tâm sự, chia sẻ niềm vui nỗi buồn .Tình bạn là cái gì cao quí mà các nhà thơ rất trân trọng, và rượu là chất xúc tác để đưa các nhà thơ thật gần gủi thân mật, tương quan, tương thức gặp nhau để hàn huyên tâm sự một cách chân tình, không khách sáo …

Hôm nào mãi uống mê man
Tính linh nuôi dưỡng chẳng màng lo xa
Nhìn ai say khướt cả mà
Cớ hay chẳng lẽ mình ta tỉnh người !

Quá Tửu Gia -Vương Tích

 



THƠ SONG NGỮ

Tuyển Tập

Thiên Thai

Tỳ Bà Hành

Bạch Cư Dị
Hải Đà sưu tập và biên soạn

Phong Kiều Dạ Bạc

Cởi Áo Tắm Mưa

Nhạc Nguyễn Đăng Tuấn
Thơ Vương Ngọc Long

Ý Cúc Tình Thơ

Bao Giờ Em Biết

Tản Mạn Về Hoa Quỳnh

Khảo Luận*Những vần thơ
Nhạc*Tập ảnh và tranh họa

Vọng Phu Thạch

Tĩnh Dạ Tứ - Lý Bạch

Nhạc phẩm Tĩnh Dạ Tứ
Thơ Hải Đà, Nhạc Mai Đức Vinh

Trường Tương Tư .

Hồi Hương Ngẫu Thư

Nhạc Mai Đức Vinh
Ca sĩ Bảo Yến trình bày

Thái Liên Khúc

Khúc Hát Hái Sen
Thái Nhã Vân bên hồ sen

Xuân Tiêu Vọng Hàn Giang

Bản dịch của các thi hữu
Thơ phỏng dịch Hải Ðà
Nhạc: Mai Ðức Vinh

Tương Tiến Tửu

Say Trong Đường Thi

CD Đã Xuất Bản

Please wait while JT SlideShow is loading images...
Em như cành mẫu đơnLầu Thơ Vút Cánh Hạc VàngGiọt Thơ BuồnQuên Bao Giờ Em BiếtNỗi Nhớ Chưa XaTình TồiCởi Áo Tắm MưaMộng Ngày Thơ
You are here: LẦU THƠ VÚT CÁNH HẠC VÀNG Tương Tiến Tửu: Say Trong Đường Thi Tương Tiến Tửu: Say Trong Đường Thi